van hoa

Hiển thị các bài đăng có nhãn van hoa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn van hoa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

Nguyễn Du (1766-1820)

Nguyễn Du sinh ra trong một gia đình quí tộc, tên tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên. Cha ông là tiến sĩ Nguyễn Nghiễm, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, làm tể tướng thời Lê-Trịnh. Mẹ Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần, người huyện Đông Ngàn, Trấn Kinh Bắc (nay thuộc Tiên Sơn, Bắc Ninh). Nguyễn Du được sinh ra ở phường Bích Câu - Thăng Long (Hà Nội).
Năm Nguyễn Du lên 10 tuổi thì cha mất và 12 tuổi mẹ mất. Nguyễn Du sống với anh cả là Nguyễn Khản cũng là quan đầu triều, rất giàu sang ở kinh đô Thăng Long. Trong suốt thời niên thiếu đến khi lập gia đình, Nguyễn Du sống nghèo khổ, phải ăn nhờ ở đậu nay nhà anh mai chỗ khác. Hơn nữa sinh ra và lớn lên trong cảnh đất nước có nhiều biến động, chính quyền Lê – Trịnh suy tàn, tiếp đó quân thanh xâm lược nước ta, rồi phong trao nông dân Tây Sơn như vũ bão quét sạch bè lũ bán nước và cướp nước, Nguyễn Du đã trải qua nhiều năm vất vả.
Năm 1783 Nguyễn Du thi Hương đỗ Tam Trường và giữ chức quan võ ở Thái Nguyên. Năm 1786, Nghĩa quân Tây Sơn tiến ra Bắc Hà, Nguyễn Khản (anh Nguyễn Du) bỏ Thăng Long về quê tổ chức chống lại, nhưng sau bị bệnh chết. Tiếp đó gia đình họ hàng Nguyễn Du phân hoá sâu sắc. Nhiều  người ủng hộ tập đoàn Lê Chiêu Thống, song cũng có người đi theo Tây Sơn. Ví như anh cùng mẹ và anh vợ của Nguyễn Du công khai hợp tác với nghĩa quân Tây Sơn và ra làm quan ở triều Quang Trung - Nguyễn Huệ.
Đối với Nguyễn Du, có lúc muốn chống lại, nhưng bất lực. Vì vậy, thời gian này ông về quê vợ ở Quỳnh Côi (Thái Bình) sống nhờ, sau đó về quê hương xứ Nghệ.
Năm 1802, nhà Tây Sơn sụp đổ, Nguyễn Ánh lên làm vua, ra chiếu trưng tập các cựu thần là Lê, Nguyễn Du cũng bị gọi và bị bắt buộc ra làm quan. Mùa thu năm ấy, ông làm tri huyện Phù Dung (Phù Tiên – Hưng Yên). Đến 1805, ông về Huế làm Đông Các đại học sĩ rỗi Cai bạ ở Quảng Bình. Năm 1813ông làm Chánh sứ sang Trung Quốc, khi về nước làm Thanh Tri bộ Lễ.
Tuy là quan chức trong triều đình, nhưng Nguyễn Du lại là một nhà thơ của thời đại, là người phát ngôn của những người bị chế độ phong kiến chà đạp. Ông đã để lại cho nhân dân đất nước nhiều văn phẩm thể hiện tâm huyết, tài năng của ông. Đó là: Thanh Hiên thi tập, Nam Trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục (chữ Hán); truyện Kiều và nhiều bài thơ khác (chữ Nôm). Thông qua ngòi bút của Nguyễn Du, ngôn ngữ Việt Nam được hoàn thiện, thật sự trong sáng phong phú. Trong đó truyện Kiều là một tác phẩm vĩ đại bất hủ.

Truyện Kiều không chỉ là một tác phẩm văn học mà còn là một bản tổng kết, một thông điệp của cuộc đời, để con người giao cảm với thế giới tâm linh, thế giới của những xúc cảm, huyền ảo mà rất đời thường ít có tác phẩm nào ngay khi ra đời đã được chào đón như truyện Kiều. Không chỉ chào đón, yêu thích, người đọc còn gửi gắm ở truyện Kiều một niềm tin, niềm tin vào tình yêu và cuộc sống, vào ngôn ngữ bất diệt của văn hoá dân tộc. Truyện Kiều là một bài ca về tình yêu, là một cuốn sách cuộc đời. Cho đến nay, không ai tính được có bao nhiêu người đã đọc và yêu truyện Kiều. Người ta không những đọc mà còn “bói Kiều, lẩy Kiều, trò Kiều, tranh Kiều, tuồng Kiều, phim Kiều…”. Chúng ta có nhiều sách nghiên cứu, từ điển tra cứu về truyện Kiều của Nguyễn Du.

Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Du đề cập và thương cảm nhiều nhất đến những phận đời đen bạc của xã hội đương thời. Trong những con người bị áp bức ấy có thân phận những người phụ nữ đau khổ, tủi hờn…GS Vũ Ngọc Khánh viết về ông: “Nguyễn Du đến với nhân dân lao động bao đời nay trong cả một bầu tâm sự cảm thông sâu sắc. Đó là một khát vọng của nhân dân cách mạng nên trong sóng gió cuộc đời, thấm nhuần bản chất của nhân dân, của dân tộc. Đó cũng là một con người nhân bản, đau với nỗi đau của nhân dân, nỗi đau bãi biển nương dâu, lên án chế độ bạo tàn, đòi cho con người có hạnh phúc, tình yêu, tự do và công lý. Ngòi bút của Nguyễn Du đã phanh phui được thế lực của đồng tiền, vạch trần những kẻ nhai thịt người mà không lòi lanh vuốt”([1])
Tháng 9 năm 1920 Nguyễn Du bị cảm rồi mất. Để ghi nhận tài năng của đại thi hào dân tộc, năm 1965 ông được Nhà nước chính thức làm lễ kỉ niệm. Ông cũng được thế giới ghi tên trong sách danh nhân của nhân loại.

Theo: Bách khoa tri thức

HỒ CHÍ MINH (1890 -1969)

Hồi trẻ có tên là Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành. Khi hoạt động ở nước ngoài lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, rồi Hồ Chí Minh. Người sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 trong một gia đình trí thức nghèo, gốc nông dân. Thân phụ của Người là cụ Nguyễn Sinh Sắc đỗ Phó bảng và từng ra làm việc cho triều Nguyễn, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn thì bị cách chức vì có tinh thần yêu nước thương dân nên ông thường có thái độ chống đối bọn quan trên và bọn thực dân Pháp. Thân mẫu của Người, cụ bà Hoàng Thị Loan là con gái một nhà Nho làm nghề dạy học nên cũng được học ít nhiều; bà tính tình hiền hậu đảm đang, quen việc đồng áng, dệt vải, hết lòng săn sóc chồng, dạy dỗ các con. Chị của Người là Nguyễn Thị Thanh và anh của Người là Nguyễn Sinh Khiêm đều tham gia phong trào chống thực dân Pháp.

Quê hương của Người (làng Kim Liên, quê nội liền kề với làng Hoàng Trù quê ngoại, đều thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An), trong lịch sử dựng nước của dân tộc đây là một địa phương giàu truyền thống đấu tranh gian khổ, chống các điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, hết hạn hán với gió Tây gào rú đến bão táp, lũ lụt trắng đồng. Quê hương Nghệ An của Người (nằm trong vùng Nghệ Tĩnh nói chung) cũng là một vùng đất có truyền thống đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm xuyên qua chiều dài lịch sử giữ nước của dân tộc. Thừa hưởng những ảnh hưởng tốt đẹp của môi trường gia đình và quê hương, ngay từ lúc còn nhỏ. Người đã sớm bộc lộ lòng yêu nước, thương đồng bào.
Người rất khâm phục cuộc khởi nghĩa Cần Vương do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1885-1896); phong trào Đông Du của Phan Bội Châu (1904-1908); cuộc vận động cải cách do Phan Châu Trinh khởi xướng (1905-1908); cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế (Hà Bắc) do Hoàng Hoa Thám đứng đầu (1885-1913). Nhưng vượt qua những hạn chế của các nhà yêu nước đi trước, với ý chí mãnh liệt và quyết tâm sắt đá, năm 1911, Người quyết định vượt biển sang phương Tây - quê hương của các cuộc cách mạng dân chủ tư sản, nơi có nền khoa học và kỹ thuật phát triển, để thực hiện mục đích ham muốn tột bậc của đời mình là giành độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào.
Vốn có tinh thần yêu nước thương dân nồng nàn, gắn bó sâu sắc với những truyền thống văn hóa tốt đẹp của quê hương, gia đình, dân tộc; lại có một vốn văn hoá rất cơ bản của phương Đông và phương Tây, thu nhận được qua sự giáo dục gia đình và nhà trường, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành trước khi xuất dương tìm đường cứu nước đã có thời gian học tại các trường học do chính quyền thực dân Pháp mở tại Vinh, Huế nên có điều kiện chủ động và nhanh chóng hòa nhập vào xã hội phương Tây tìm hiểu thấu đáo và thông cảm sâu sắc với cuộc sống các dân tộc bị áp bức từ châu Âu sang châu Á, từ châu Phi đến châu Mỹ. Cuộc khảo sát dài ngày và phong phú đã giúp cho nhận thức của Người về kẻ thù, về tình nhân loại kết hợp với hữu ái giai cấp, về sức mạnh đoàn kết chiến đấu, v.v… vượt qua phạm vi Quốc gia để vươn tới tầm cao thế giới. Đó là nền tảng để Người (từ năm 1919 có tên là Nguyễn Ái Quốc) nhanh chóng tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, chân lý của thời đại.
Hoạt động đầu tiên có tiếng vang lớn của Người trên đất Pháp là gửi tới Hội nghị Versailles (Vecxay) của các nước đế quốc mới đánh bại Đức trong chiến tranh thế giới I (1914-1918) bản Yêu sách của nhân dân Việt Nam đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam (ngày 18 tháng 6 năm 1919). Yêu cầu chính đáng trên không được giải quyết làm cho Người thêm nhận rõ: ''Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới”.
Chính vào lúc đó, khi phong trào cách mạng của nhân dân Pháp đang dâng cao dưới ảnh hưởng tốt đẹp của Cách mạng tháng Mười Nga (1917) và thông qua những đại biểu của những người cùng khổ nhất của nước Pháp, Người đã bắt gặp chân lý cứu nước là chủ nghĩa Mác-Lênin. Luận cương của Lênin về vấn đề thuộc địa với những vấn đề đặc biệt quan trọng về con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc; về quyền bình đẳng tự do thật sự giữa các dân tộc; về tình đoàn kết chiến đấu giữa giai cấp vô sản và nhân dân lao động các nước v.v... đã làm cho Người vô cùng phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng (1920). Từ đó, Người tin theo Lênin và tán thành Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản). Từ một người yêu nước mãnh liệt, Người đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, trở thành người cộng sản đầu tiên ở Việt Nam, và là một trong số những người sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp (1920).
Từ năm 1921 đến 1930, với những hoạt động phong phú và sáng tạo ở Pháp, Liên Xô, Trung Quốc v.v... vừa ra sức học tập nâng cao trình độ lý luận cách mạng vừa tham gia các hoạt động của Đảng Cộng sản Pháp và của Quốc tế Cộng sản; viết sách, báo, mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam một cách hệ thống...  Người đã xuất hiện trên vũ đài chính trị thế giới với tư cách một chiến sĩ cách mạng Quốc tế và là người sáng lập ra chính đảng kiểu mới ở Việt Nam: Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là thời kỳ hình thành về cơ bản đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-LÊnin vào những điều kiện cụ thể của Việt Nam, kết hợp đúng đắn sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; Người khẳng định cách mạng Việt Nam từ đây coi chủ nghĩa Mác-Lênin là cẩm nang thần kỳ, là kim chỉ nam định hướng, là Mặt trời soi sáng con đường dân tộc Việt Nam đi tới thắng lợi, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Thời kỳ này, Người đã tham gia sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa (1921), trực tiếp thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội (1925); ra báo Người cùng khổ (Le Paria, 1922), báo Thanh niên (1925); viết các tác phẩm Con rồng tre (1922); Bản án chế độ thực dân Pháp (1925); Đường cách mệnh (1927).
Từ sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời (3 - 2 - 1930), trong những năm tiếp theo của thập kỷ 30 đến những năm của thập kỷ 40, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong hoạt động Cách mạng, có thời gian bị bắt và bị đầy trong nhà lao đế quốc Anh ở Hồng Kông (1931 - 1932), Người vẫn theo dõi sát sao phong trào cách mạng trong nước, kịp thời đóng góp với Trung ương Đảng ở trong nước nhiều ý kiến cụ thể để chỉ đạo thực hiện tốt đường lối của Đảng ngày 8 tháng Hai 1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Người trở về Tổ quốc. Chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ VIII của Trung ương Đảng điều chỉnh chiến lược cách mạng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc là trên hết, tạm thời gác lại nhiệm vụ cách mạng ruộng đất; thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi là Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) vào ngày 19 tháng 5 năm 1941. Bằng tầm cao trí tuệ, với hoạt động đổi mới và sáng tạo Người đã vận dụng thành công học thuyết Mác-Lênin về Vấn đề dân tộc và thuộc địa vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, mở đầu bằng Cách mạng tháng 10 Nga rung chuyển địa cầu (1917) đưa tới thắng lợi của Cách mạng tháng 8 (1945) có ý nghĩa lịch sử và có tính chất thời đại mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Người khẳng định: “Đó là thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam mà cũng là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa.
Trong thời gian chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức để tiến tới Cách mạng tháng Tám, Người đã lược dịch cuốn Lịch sử Đảng cộng sản Bolshevik Liên Xô; biên soạn một số tài liệu như Cách đánh du kích, cách huấn luyện cán bộ quân sự, ra báo Việt Nam đọc lập (Tên gọi tắt là Việt Lập). Người cũng đã chỉ thị tổ chức đội tự vệ vũ trang ở Cao Bằng.
Tháng 8 - 1942, với tên gọi là Hồ Chí Minh, Người sang Trung Quốc để liên lạc với các lực lượng cách mạng của người Việt Nam bên đó và lực lượng của Đồng minh vừa qua biên giới, Người đã bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch vô cớ bắt giam hơn một năm, giải tới giải lui qua gần 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây. Trong hoàn cảnh đó, Người đã viết tập thơ chữ Hán Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù), một tác phẩm lịch sử và văn học vô giá, khẳng định tinh thần bất khuất lạc quan cách mạng và ý chí cách mạng tiến công của một nhà yêu nước vĩ đại, của một người cộng sản vĩ đại.
Thất bại trong âm mưu sát hại người chiến sĩ cách mạng kiên cường, chính quyền Tưởng phải trả lại tự do cho Người (tháng Chín 1943). Chưa có điều kiện về nước Người đã tranh thủ thời gian tiếp xúc với các tổ chức chống Nhật, chống Pháp của người Việt Nam ở Trung Quốc, đồng thời chắp lại liên lạc với Trung ương Đảng ở trong nước. Tháng 7 năm 1944, Người về đến Pắc Pó (Cao Bằng) sau đó về Tân Trào (Tuyên Quang) trực tiếp lãnh đạo cách mạng đưa tới thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Nhưng sau ngày Tuyên ngôn Độc lập (2-9-1945) tình hình nước nhà như ngàn cân treo sợi tóc, vì giặc đói giặc dốt, giặc ngoại xâm. Theo lời kêu gọi của Người, toàn thể dân tộc Việt Nam: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu trở lại đời nô lệ” đã vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Với tinh thần Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết. Đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết; Thành công, thành công đại thành công. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng do Hồ chí Minh đứng đầu, nhân dân Việt Nam đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ với chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội địa cầu (1954). Việt Nam - Hồ Chí Minh - Điện Biên Phủ tượng trưng cho lòng dũng cảm, quyết tâm không gì lay chuyển nổi trong cuộc đấu tranh tự giải phóng giành độc lập tự do của các dân tộc thuộc địa. Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành được thắng lợi, giải phóng miền Bắc, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân hai miền Nam, Bắc tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước.
Hồ Chí Minh là linh hồn hai cuộc kháng chiến cứu nước của toàn dân tộc, Người đã chủ trương tiến hành chiến tranh nhân dân, dựa vào sức mạnh chính nghĩa của thời đại và truyền thống bất khuất của dân tộc Việt Nam nhằm tạo lên sức mạnh tổng hợp của toàn dân đánh thắng bọn xâm lược. Đó chính là quy luật của chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc.
Đặc trưng tư tưởng Hồ Chí Minh là kết hợp nhuần nhuyễn triết học phương Đông với triết học phương Tây, nắm vững nền văn hóa dân tộc và tiếp thu một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta.
Hồ Chí Minh trở thành một biểu tượng và một hiện thực của sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải thể chế độ thực dân trên phạm vi toàn thế giới; đồng thời cũng là biểu tượng và hiện thực cho những lý tưởng - khát vọng: độc lập cho mỗi dân tộc; tự do cho mỗi người; hạnh phúc cho nhân dân mỗi nước. Sau kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhân dân hai miền Nam - Bắc tiếp tục cuộc đấu tranh để hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện thống nhất nước nhà. Sớm phát hiện đúng đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa[1]; Người đã lãnh đạo khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, cải tạo xã hội chủ nghĩa, từng bước vững chắc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp. Hồ Chí Minh là người đầu tiên vạch ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và phác thảo mô hình xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Theo Người, Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn, việc làm, được ấm no và sống một cuộc đời hạnh phúc[2]. Nêu cao tư tưởng đạo đức; trung với nước, hiếu với dân; Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đặt lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc lên trên hết, Người đã trở thành một mẫu mực đạo đức không riêng cho nhân dân Việt Nam, mà cho cả nhân loại yêu chuộng hòa bình, tiến bộ. Nhà sử học Mỹ J.Stenson đánh giá: "Thế giới đang đứng trước thảm họa tha hóa về vật chất, con người đang bị đẩy vào cuộc sống tiện nghi tối đa xa dần cuộc sống thiên nhiên, xa cuộc sống giữa người với người, không cần sống có đạo đức thì Người không tha hóa về vật chất, không mang tiếng về đời tư...Một số đông người đã tha hóa chạy theo cuộc sống hưởng thụ vật chất, bất chấp cả nhân phẩm đạo đức coi sự hưởng thụ là mục đích của cuộc sống, nhân loại lại tìm về tấm gương sáng ngời nhân cách của Hồ Chí Minh, một tấm gương cho mọi thế hệ tiếp sau[3].
Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đào luyện con người mới xã hội chủ nghĩa. Chiến lược trồng người cùng với việc chăm lo cho một Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước vững mạnh của dân, do dân, vì dân thể hiện khát vọng dân giàu nước mạnh xã hội văn minh của Người.
Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; tiếc rằng Người không còn sống đến ngày thắng lợi, nhưng xét về mặt lịch sử, Người là kiến trúc sư của thắng lợi đó Người dành nhiều công sức vun đắp phát triển tình hữu nghị, đoàn kết nhân loại tiến bộ nhằm biến những khát vọng của các dân tộc được làm chủ vận mệnh mình trở thành hiện thực, đồng thời khẳng định được bản sắc dân tộc của mình trong sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Hồ Chí Minh là một vĩ nhân đã tác động và thúc đẩy lịch sử dân tộc Việt Nam và lịch sử thế giới tiến lên phía trước trong quá trình phát triển của nhân loại. Người là vị anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là một danh nhân văn hóa[4]. Cống hiến to lớn, nhiều mặt của Người đã góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong tầm nhìn của nhân loại tiến bộ, tư tưởng, đạo đức, tư tưởng văn hóa và nhân văn của Người để lại những dấu ấn không thể phai mờ. Tư tưởng ''Không có gì quý hơn độc lập tự do" của Hồ Chí Minh đã trở thành chân lý của thời đại, ngọn cờ chiến đấu của các dân tộc bị áp bức. Phieng Sisulat (Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Thể thao Lào) khẳng định:
''Không có gì quý hơn độc lập tự do!
Một câu nói giản dị, ngắn gọn đã trở thành một câu danh ngôn mang những âm vang cộng hưởng không chỉ bó hẹp trong đất nước, con người Việt Nam mà còn là lý tưởng đấu tranh của nhân dân các nước bị áp bức bóc lột và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới”[5].
Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh trở thành niềm tự hào chung của nhân dân các dân tộc bị áp bức. Bà Marcela Lombardo - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu triết học chính trị và xã hội Mexico nhận định: ''Hồ Chí Minh đã tham gia và thúc đẩy... sự nghiệp vì hòa bình. Và như một nhà văn hóa, Người đã tham gia vào sự phát triển và truyền bá văn hóa, nhận thức được văn hóa như một kho tàng kiến thức của con người về thiên nhiên, cuộc sống, cũng như để đánh giá về sự tồn tại, mà giá trị của nó có thể tăng cường lòng tin vào tính hoàn thiện không ngừng của con người[6].
Trên mạch suy nghĩ đó đi tới một khẳng định: “… Những con người như Hồ Chí Minh ngày càng trở nên vĩ đại, vì họ là những người đã cho chúng ta lý do để sống và khả năng để thực hiện những giấc mơ của mình''[7]. Và dễ hiểu là ở giữa cơn khủng hoảng về chính trị, đạo đức, người ta lại tìm về Hồ Chí Minh vì ''Người đã để lại dấu ấn không thể sai lầm của mình để được tiếp tục theo đuổi trong các đảo lộn nhiều biến động, như Santi Mauroy (Giáo sư sử học Ấn Độ) đã khẳng định''.

Hồ Chí Minh đã đi vào cõi vĩnh hằng. Nhưng nhân loại, trên con đường vươn tới sự phát triển tự do và toàn diện của mỗi người và của mọi người, đã tìm thấy trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh một giá trị trường tồn. Đúng như ý kiến của nhà văn Úc Allan Asbolt: "Nếu chúng ta muốn đối phó một cách hợp lý và mạnh mẽ với những vấn đề mà chủ nghĩa xã hội đang gặp phải, chúng ta phải học ở Hồ Chí Minh bằng cách phát triển những phẩm chất đã thể hiện trong suốt cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài của Người: Kiên nhẫn và vững vàng theo đuổi mục đích và bình tĩnh trong những lúc khó khăn; linh hoạt về tư duy và chính trị khi xây dựng khối đoàn kết xã hội chủ nghĩa; khiêm tốn và gần gũi với nhân dân, nhất là với công nhân và nông dân; có sự đồng cảm để đạt tới sự hòa giải dân tộc, có tinh thần Quốc tế mạnh mẽ; sự sáng tạo và nhạy bén về văn hóa, một sự hiểu biết có phân tích về lịch sử, đặc biệt là về cách thức mà những biến đổi lịch sử đã diễn ra; và phẩm chất mà Hồ Chí Minh có một cách dồi dào - đó là sự lạc quan của ý chí”[8].

NGUYÊN TRÃI (1380 - 1442)

Tên hiệu là Ức Trai, vốn người xã Chi Ngại, lộ Lạng Giang (nay thuộc tỉnh Hải Hưng) sau rời về Nhị Khê, châu Thượng Phúc, Lộ Đông Đô (nay thuộc tỉnh Hà Tây); xuất thân từ một gia đình quý tộc. Là con Nguyễn Ứng Long, tức Nguyễn Phi Khanh, nhà văn xuất sắc thời Trần - Hồ, là cháu ngoại Trần Nguyên Đán, nhà thơ lớn và Tể tướng cuối triều Trần. Nguyễn Trãi là nhà văn hóa xuất sắc của Việt Nam với tư cách là nhà văn, nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà tư tưởng, nhà sử học và địa lý học... Về hoạt động xã hội, ông đã tích cực tham gia cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi chống quân Minh, đồng thời cũng là bậc khai quốc công thần, một lòng đắp xây Vương triều Lê trong buổi ban đầu. Thảm án Lệ Chi Viên oan khiên chu di tam tộc mà Nguyễn Trãi gánh chịu, chính là hệ quả khôn lường của tấm lòng ngay thẳng; của thái độ tận tụy, nói thẳng nói thật, và cuối cùng lịch sử đã chứng minh nỗi oan cho ông. Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo (Lòng ức Trai sáng như sao Khuê - Lê Thánh Tông), được tôn là bậc thi bá (Nguyễn Mộng Tuân); là người viết thư thảo hịch, tài giỏi hơn hết một thời, văn chương gắn liền với sự nghiệp kinh bang tế thế (Lê Quý Đôn); là sông Giang sông Hán trong các dòng sông, sao Ngưu sao Đẩu trong các vì sao (Tô Thế Nghi); viết nên áng hùng văn có khí lực dồi dào... đọc không biết chán (Phạm Đình Hồ); rõ ràng và trong sáng trong khoảng trời đất (Dương Bá Cung)...

Gắn liền với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh, trên cương vị Tuyên phụng đại phu, Hàn lâm thừa chỉ Nguyễn Trãi đã có tập thơ binh vận - luận chiến nổi tiếng: Quân trung từ mệnh tập sử dụng đao bút như một thứ vũ khí lợi hại, góp phần làm suy yếu tinh thần quân địch. Sau chiến thắng năm 1428, Nguyễn Trãi đã viết Bình Ngô đại cáo được coi là áng Thiên cổ hùng văn; viết tiếp Phú Núi Chí Linh Lam Sơn Vĩnh Lăng thần đạo bi nêu bật công tích của Lê Lợi trong sự nghiệp cứu nước. Về sáng tác thơ, các tập thơ của ông hầu như được viết trong thời gian sau chiến tranh. Tập thơ Ức Trai thi tập bằng chữ Hán bao gồm 105 bài nằm trong dòng chảy thơ Đường truyền thống và trong hệ quy chiếu của mỹ học phong kiến. Riêng với Quốc âm thi tập bằng chữ Nôm gồm 254 bài, có thể coi Nguyễn Trãi là người chính thức khởi đầu bằng một tập đại thành thơ quốc âm, mở ra cả một dòng chảy lớn trong nền thơ ca dân tộc. Hơn thế nữa, Quốc âm thi tập còn có ý nghĩa là sự phá cách cách tân, khắc phục khuynh hướng quy phạm, mở rộng cảm quan sáng tác thi ca, đặc biệt trong cách diễn tả Thế giới thiên nhiên và nội tâm con người bằng ngôn ngữ và tâm hồn dân tộc.
Cũng vào thời kỳ hậu chiến, Nguyễn Trãi đã được ban họ Vua và tước quan Phục hầu, được giữ chức Nhập nội hành khiển kiêm Lại bộ Thượng thư, tiếp tục thay Vua soạn thảo nhiều chế, chiếu ban bố trong nước, và các thư biểu bang giao với nhà Minh. Ngoài ra, ông còn biên soạn bộ sách Dư địa chí Luật thư, nêu ý kiến tranh luận về luật hình, âm nhạc, văn hiến dân tộc. Tóm lại, Nguyễn Trãi đã trở thành hiện thân cho bước chuyển thời đại từ Phật giáo Lý – Trần sang Nho giáo; người đặt nền móng tư tưởng – văn học nghệ thuật cho thời đại Nho giáo thịnh trị, đặc biệt trong buổi đầu còn le lói ánh sáng hào quang của tinh thần Phục Hưng và ý nghĩa nhân văn. Đánh giá những đóng góp xuất sắc, đa dạng của Nguyễn Trãi đối với lịch sử dân tộc Việt Nam và sự phát triển những giá trị nhân văn, nhân loại; năm 1980, tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã ghi nhận ông là Danh nhân văn hóa và được kỷ niệm trên toàn thế giới.

Shakespeare (1564 - 1616)

Không thể nghi ngờ rằng Shakespeare là linh hồn của văn hóa Phục hưng Anh. Sự nghiệp sáng tác của Shakespeare làm người ta kinh ngạc. Hiếm có nhà  văn nào mà có nhiều tác phẩm trường tồn như ông. Đặc biệt ở địa hạt kịch, ông là một đỉnh cao đầy thách thức đối với bất kì nhà soạn kịch nào. Cống hiến của ông là giúp con người hiểu thêm về mình. Nghệ thuật đối với ông là một tấm  gương phản chiếu cuộc sống, rằng chớ nên ''vượt khỏi sự khiêm tốn, giản dị của tự nhiên”. Đó là những quan điểm nghệ thuật tiến bộ không chỉ với thời đại ông  mà còn đối với những thời đại sau, kể cả hiện nay, khi nhiều trường phái, nhiều học thuyết nhân danh là “mới'' đang muốn kéo nghệ thuật đi chệch khỏi con  đường chân chính.

Nước Anh bước vào thời đại Phục hưng muộn hơn so với Italia và một số nước Tây Âu khác. Cùng với xu thế tiến lên chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu, nước Anh mau chóng hình thành nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, đặc biệt ở miền Nam. Nhưng kéo theo sự phát triển của những công trường là hàng nghìn nông dân bị mất đất, bị xua đuổi và trở thành nhân công rẻ mạt cho chủ tư bản. Nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra và đều bị dìm trong biển máu. Số phận của thợ thủ công cũng khốn khổ không kém. Họ bị bóc lột thậm tệ, lao động từ 12 đến 14 giờ với đồng lương đói rách. Họ và những người nông dân đã trở thành nạn nhân của mối liên kết giữa tư sản và tầng lớp quý tộc mà đứng đầu là nhà vua.

Sự liên kết chặt chẽ giữa tư sản và lớp quý tộc mới đã thống nhất thị trường trong nước và bành trướng thế lực ra bên ngoài. Kết quả là nước Anh nhanh chóng trở thành cường quốc số một ở Châu Âu dưới thời nữ hoàng Elilabeth I. Đây là điều kiện thuận lợi biến London kinh đô của nước Anh trở  thành kinh đô của triết học, khoa học kĩ thuật, văn học và nghệ thuật. . . Văn hoá Phục hưng khi vào Anh cũng phát triển mạnh như vũ bão, Nó cũng mang theo tính chất của mọi phong trào văn hoá Phục hưng đã phát triển trên lục địa Châu  Âu: tinh thần chống chủ nghĩa ngu dân, chủ nghĩa giáo điều kinh viện Trung cổ nhằm giải phóng cho trí tuệ của con người, khẳng định cuộc đời trần thế, đòi hỏi giải phóng cá nhân, niềm vui say trước những phát kiến về thiên văn và địa lí, niềm say mê trước vẻ đẹp của những tác phẩm văn nghệ cổ đại Hi Lạp...
Nhưng bên cạnh những tính chất chung đó, văn hoá Phục hưng Anh còn biểu hiện những đặc trưng cơ bản khác, do lúc này nước Anh là ''một quốc gia tư bản chủ nghĩa điển hình''. Ở đấy là những mâu thuẫn khốc liệt của sự phân biệt giàu nghèo, tác dụng của đồng tiền đối với nhân phẩm và tình thương, những quy luật cạnh tranh. . . Tình hình đó đã chi phối hướng phát triển của văn học nghệ thuật, để phản ánh trọn vẹn những mặt đối lập, những mâu thuẫn không thể điều hoà đó, kịch là loại hình nghệ thuật có khả năng hơn cả. Đây lại là điểm  mạnh khi nước Anh vốn đã có truyền thống lâu đời về kịch.
Khoảng thời gian từ 1580 cho đến 1642, nền kịch Anh phát triển mạnh mẽ, phong phú xưa nay chưa từng thấy. Nhiều xu hướng với nhiều tác phẩm đua nhau nảy nở, chủ yếu theo hai hướng chính: Đó là khuynh hướng của những cuộc tình éo le, trắc trở song rút cuộc là thành công. Những chuyện nhẹ nhàng, vui vẻ, với ngôn từ thấm đẫm chất trữ tình, chải chuốt. Khuynh hướng thứ hai  thì ngược lại. Miêu tả những cảnh tượng hãi hùng, rùng rợn, đầy máu và nước  mắt dựa trên chủ đề về hận thù và khát vọng. Trên sân khấu chỉ toàn cảnh chết  chóc, đâm chém khốc liệt.
Nhưng từ khi Shakespeare xuất hiện, sân khấu kịch chỉ dành riêng cho ông. Ông chính là nhà soạn kịch, nhà thơ thiên tài, người đại biểu xuất sắc nhất cho văn đàn nước Anh thời Phục hưng.
William Shakespeare sinh ngày 23.4.1564 tại thị trấn Stratford nằm trên bờ sông Avon, thuộc miền Trung nước Anh. Cha ông rời bỏ nghề nông ra thị trấn này làm ăn và trở nên khá giả, có lúc ông đã làm thị trưởng mấy nhiệm kì. Nhưng sau đó gia đình làm ăn sa sút, năm 14 tuổi Shakespeare phải bỏ học đi  làm kiếm sống. Năm 18 tuổi, Shakespeare lập gia đình và khi 23 tuổi ông để vợ con lại thị trấn quê hương hăm hở ra London với ước mơ lập nghiệp. Ông đến  với rạp kịch được xây dựng lần đầu tiên ở Anh và làm đủ công việc từ chân giữ  ngựa, chân soát vé, chân nhắc vở rồi làm diễn viên. Ông thử cầm bút soạn lại, cải biên một vài vở cũ, viết chung với soạn giả khác một hai vở mới, sau đó mới sáng tác một mình. Trong quá trình sáng tác, ông nhận thấy mình còn thiếu hụt nhiều kiến thức, Ông đã tự mày mò học về lịch sử, triết học... tự quan sát đời sống giới thượng lưu, và nhờ mối quan hệ với nhiều người mà ông thâm nhập vào mọi môi trường sống để hiểu biết về xã hội. Ông cũng được những người trong nghề kịch chỉ bảo, tiếp thu vốn kinh nghiệm trong dàn dựng kịch, nhờ vậy  ý tưởng sáng tạo của ông đã mau chóng đơm hoa kết trái.
Shakespeare nổi tiếng chỉ sau 5 năm có mặt ở kinh thành. Hai mươi năm cầm bút, ông để lại gần 40 vở kịch, 2 bản trường ca, một tập gồm 154 bài thơ xone. Tính trung bình mỗi năm ông viết 2 vở kịch. Ông được thừa nhận là nhà thơ, nhà soạn kịch lớn nhất của thời đại mình. Người cùng thời coi ông là ''nhà  thơ giọng lưỡi ngọt ngào'' (The honey - tongued poet), là ''người vung ngọn dáo''  làm “náo động kịch trường''... Victor Hugo, Goeth coi ông là một bậc thầy của thi ca và kịch. Cuộc đời sáng tác của Shakespeare thường được chia thành bốn  giai đoạn.
Giai đoạn đầu khoảng từ 1590 đến 1594. Đây là thời kỳ ông viết các vở  Hài kịch của những hiểu lầm, Hai chàng công tử ở Veron, Công cốc vất vả vì tình, vở kịch lịch sử Henry VI. Người ta thường coi đây là thời kì tập sự, thử sức của Shakespeare, thời kì ông sửa chữa cải biên các vở kịch cũ và hợp tác với soạn giả khác khi viết vở mới. Đây cũng là thời kì Shakespeare cho ra đời một  số bài thơ xone và bi kịch nổi tiếng Romeo và Juliet.
Giai đoạn thứ hai từ 1594 đến 1600 là thời kì ông sáng tác những vở kịch lịch sử nổi tiếng như Henry VI, Henry V... cùng loạt hài kịch vui nhộn như ầm ĩ vì chân không đâu, Xin tuỳ thích, Đêm thứ 12, Giấc mộng đêm hè, Chàng lái  buôn ở Venice. Đây là thời kì tài năng của Shakespeare nở rộ, những vở kịch phản ánh cảm quan yêu đời, lạc quan, tự hào về đất nước, phác hoạ không khí của ''Cái nước Anh vui vẻ''.
Giai đoạn thứ ba từ 1601 đến 1608 là giai đoạn của những vở bi kịch lớn như Hamlet, Othello, Vua Lear, Macbeth, Antony và Cleopatra ... giai đoạn này cảm hứng lạc quan vui vẻ đã thay bằng thái độ phê phán lên án những mặt đen tối, những cái xấu xa, lên án tội ác và bạo lực nêu bật sự khủng hoảng bế tắc của cả một xã hội, một thời đại.
Giải đoạn cuối cùng từ 1609 đến 1613 là giai đoạn của những vỏ kịch tình duyên thơ mộng, đầy gian nan trắc trở nhưng cuối cùng tốt đẹp Pericles, Cymbeline, Câu chuyện mùa đông, Bão táp, Sáng tác thời kì này mâu thuẫn có phần dịu xuống, không còn gay gắt quyết liệt như thời kì trước, vì vậy mà có  những kết thúc vui vẻ với cảnh sum họp đoàn viên.
Từ 1613, Shakespeare không viết nữa, về lại thị trấn quê hương và chỉ ra London vài lần. Và ngày 23.4. 1616 ông từ trần. Trong suốt cuộc đời sáng tác người ta vẫn thường thắc mắc tại sao Shakespeare ngừng viết khi cây bút của ông chưa hề tỏ ra đuối sức? Nguyên nhân thì  nhiều, mỗi người lại giả thiết một kiểu. Nhưng nguyên nhân chủ yếu phải chăng liên quan đến 20 năm sáng tác tương đương với bao nhiêu biến cố trong lịch sử nước Anh.
Thời đại của Shakespeare là thời của những chuyển biến dữ dội từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản. Theo Shakespeare, ông viết kịch là để ''chìa ra  một tấm gương tự nhiên nhằm làm cho đạo đức thấy hình ảnh của nó, thói vô  đạo đức tự biết khinh bỉ và mỗi thế kỉ, cả thời đại nói chung có thể nhận ra bộ mặt và tính cách của nó'' (Hamlet, hồi III cảnh 2). Thời kỳ viết những vở kịch vui vẻ là thời kì mà tâm trạng của ông có nhiều đắc ý, hân hoan trước chiến thắng của nước Anh, trước nước Anh đang lớn mạnh. Nhưng càng về sau, trong  kịch của ông càng nhiều yếu tố bi, âm hưởng của niềm lạc quan hầu như không còn. Nhân vật Hamlet đã nói ''Thật là một thời đại đảo điên tan tác'', ''Cả thế giới giờ đây là một nhà tù, một nhà tù đen tối'' và tất nhiên là ''Giờ đây ta không còn cảm thấy vui bên cạnh con người''. . . Thế giới quan trọng những vở bi kịch hết sức tăm tối, nặng nề, phần nào đó Shakespeare không chìm sâu vào những bi kịch tăm tối có lẽ là niềm tin yêu đối với công chúng, những người luôn say mê  và ủng hộ ông tiếp tục sáng tác.
Còn một nguyên nhân trực tiếp khiến Shakespeare từ giã sân khấu, đó là thái độ thù địch của phái Thanh giáo và của giới cầm quyền đối với nghệ thuật sân khấu, cùng với thị hiếu chuộng hình thức hoa mĩ, cầu kì đang thắng thế, đi ngược lại với quan điểm của ông là ''Chớ bao giờ vượt ra khỏi cái bình dị của Tự nhiên''. Một khi nghệ thuật chỉ đơn thuần là mua vui, giải trí dễ dãi thì sứ mạng của Shakespeare - người nghệ sa chân chính - cũng kết thúc!
Trước khi nói về kịch, đóng góp to lớn nhất của Shakespeare, cũng không nên quên rằng Shakespeare còn là một nhà thơ. Ông có 2 truyện thơ và 154 bài  xone, những bài thơ 14 dòng xuất xứ từ Italy nhưng đã được Shakespeare điều chỉnh về âm vận cho phù hợp với tiếng Anh. George Gissing, nhà thơ Anh thế kỉ 19 đã nhận xét về thơ của Shakespeare như sau: ''mỗi một từ đều có hàm ý phong phú hoàn chỉnh, mỗi một dòng đều có tiết tấu vui tai như âm nhạc.
Shakespeare có gần 40 vở kịch. Căn cứ vào đề tài có thể phân thành nhiều nhóm như: kịch lịch sử, hài kịch, bi kịch. Trong mỗi nhóm, Shakespeare lại có những vở kịch xuất sắc khác nhau.
Kịch lịch sử có thể phân thành hai dòng, dòng lịch sử của nước Anh và dòng lịch sử lấy đề tài La Mã cổ đại. Kịch lịch sử cho thấy quan điểm chính trị của ông là tán thành và ủng hộ nhà nước quân chủ tập trung có khả năng thống nhất quốc gia và ''chặt cụt lưỡi kiếm của những tên phản bội nào lăm le muốn kéo trở lại những ngày tang tóc và làm cho nước Anh đáng thương này phải khóc tuôn từng suối máu''. Shakespeare chủ tâm mượn lịch sử để rút ra bài học: hôn quân và bạo chúa, vua nhu nhược, những kẻ quyền cao chức trọng mà đắm đuối trong tửu sắc thì kết quả cuối cùng không tránh khỏi là hoạ diệt vong. Ông thấy được và miêu tả sức mạnh nhân dân có thể lật nhào bạo chúa, hôn quân.
Các nhà nghiên cứu cho rằng những vở kịch lịch sử của Shakespeare làm sống lại quá khứ. Kịch của ông đem lại một cái nhìn sắc sảo đối với các sự kiện,  các nhân vật lịch sử. Ông luôn luôn lựa chọn những nhân vật có vấn đề trong những thời điểm có vấn đề, tập trung khắc họa tính cách nhân vật khi nhân vật  lâm vào hoàn cảnh bị dồn nén.
Shakespeare là một cây bút hài kịch độc đáo. Ông viết khá nhiều hài kịch như Hài kịch của những hiểu lầm, Cô nàng đáo để đã thuần rồi, Cong cốc vất vả  với tình, Giấc mộng đêm hè, Chàng thương gia thành Venice, Đêm thứ mười  hai. . . Những vở hài kịch của ông trước hết là để mua vui cho công chúng nước  Anh lúc bấy giờ, các chủ đề thường là tình yêu đôi lứa, để viết nên những vở hài kịch ông thường mượn cốt truyện nước ngoài của các nhà văn Ý, Pháp, Tây Ban  Nha, hay những câu chuyện từ thời La Mã cổ đại.
Vở hài kịch Giấc mộng đêm  hè đưa người xem vào một thế giới nửa hư nửa thực. Câu chuyện xảy ra tại  thành Ten, trong cánh rừng gần thành phố. Còn  ''Đêm thứ mười hai'' cũng chung một chủ đề về tình yêu. Câu chuyện xảy ra  trong thế giới trần gian này, ở Ilirya - dưới bầu trời của phương Nam ngào ngạt hương hoa, Công tước Osino say mê quận chúa Olyvia đến khắc khoải đêm ngày. Chàng đang cần một sứ giả tình yêu đến làm cầu nối vôi Olyvia. Vừa lúc đó, Vaiola, một cô gái xinh đẹp cải trang nam giới lấy tên là Xezario để đi tìm  Xebaxchia - anh trai nàng xuất hiện. Tưởng đó là một chàng trai, Osino dốc cạn bầu tâm sự, Vaiola vô cùng xúc động trước tình yêu đắm say của chàng trai, nàng nhận lời làm thuyết khách cho chàng. Nàng đem hết tài năng thuyết phục  Olyvia nhưng  trớ trêu thay, Olyvia lại nhầm tưởng đó là một chàng trai nên đem lòng yêu người thuyết khách hơn yêu chàng công tước Vaiola vẫn phải giấu kín tung tích, nàng càng chứng tỏ là trai thì càng khiến quận chúa yêu mình. Càng chứng kiến nỗi đau khổ của công tước Osino bao nhiêu, Vaiola càng xúc động và yêu chàng bấy nhiêu. Sự xuất hiện của Xebaxchia đã gỡ hết mọi mối tơ mành. Chàng và Vaiola là anh em sinh đôi, giống nhau đến nỗi quận chúa cũng nhầm. Khỏi phải nói, chàng đáp ứng lại tình cảm nồng nàn của quận chúa, lúc bấy giờ, Vaiola cũng chẳng cần che giấu mình giả trai nữa. Công tước lại vô cùng sung sướng ngỏ lời cầu hôn nàng vì thấy rõ Vaiola là người con gái chẳng những thông minh, xinh đẹp mà còn có tấm lòng cao quý! Câu chuyện kết thúc,  tiếng cười vút lên sảng khoái và mãn nguyện vì tình yêu cuối cùng đã trọn vẹn.
Trong hai vở kịch nói trên, Shakespeare đã thả hồn mình vào những cảnh thiên nhiên sống động, những cảnh đôi lứa hẹn hò, tâm trạng nhân vật được thể  hiện một cách tinh tế từ thương nhớ, chờ mong đến hi vọng và hạnh phúc...  Đây là hai vở hài kịch kết hợp tiếng cười và tính lãng mạn bay bổng. Trong khi đó, ''Chàng thường gia thành Venice'' lại kết hợp tiếng cười với những bài học sâu sắc về tình người. Antonio là một thương gia giàu có và nổi tiếng hào hiệp ở Venice. Để giúp bạn là Bassiano cầu hôn được nàng Portia, Antonio - vì không  sẵn tiền mặt – đành phải đến vay Shylock - tên Do Thái cho vay nặng lãi, ba nghìn đồng tiền vàng. Shylock vốn không ưa gì Antonio, hắn ra điều kiện: nếu đến kì hạn mà chàng không trả đủ thì chàng phải để cho hắn xẻo 1/2 livro thịt trên người chàng. Chuyện xảy ra như dự kiến của hắn, Antonio không có tiền trả nợ. Shylock kiện ra toà. Trong phiên toà, ai ai cũng khuyên hắn nên có lòng thương người nhưng hắn khăng khăng đòi phải thi hành bản cam kết. Phiên toà đang bế tắc thì Bassiano về. Chàng đưa tiền cứu bạn, hắn từ chối. Chàng bèn trả  cho hắn gấp đôi, thậm chí gấp mười lần nhưng Shylock vẫn khăng khăng từ chối tiền. Phiên tòa lại rơi vào bế tắc. Bỗng xuất hiện một luật sư tuấn tú khôi ngô, theo sau là viên thư kí cũng tuấn tú khôi ngô. Sau khi khuyên bảo Shylock nên có lòng khoan dung và bị hắn bác bỏ. Luật sư đề nghị thi hành bản án nhưng với  điều kiện, Shylock không được làm đổ dù chỉ một giọt máu của Antonio. Hắn ngớ người trước điều kiện đó, nhưng đã quá muộn, hắn vừa không thể hành tội  Antonio mà còn bị toà trừng phạt. Bassiano mời luật sư là các bạn đến mừng  thắng lợi, giữa tiệc vui, mọi người mới vỡ lẽ rằng luật sư tài giỏi chẳng phải ai khác là nàng Portia.
Trong quá trình sáng tạo, Shakespeare không chỉ hướng sự chú ý vào nhân vật Antonio mà ngòi bút của kịch gia còn tái hiện hình ảnh hai nhân vật đối nghịch nhau: Portia và Shylock. Một bên đại diện cho chủ nghĩa nhân văn, một  bên là đại diện của những thói xấu xa ti tiện. Sự thắng lợi của Portia cũng là sự thắng lợi của nhân ái và lương thiện trước những thế lực tàn ác.
Những vở kịch vui của Shakespeare vẫn còn nguyên giá trị đến ngày nay. Nhưng thực sự để đánh giá tài năng vẹn toàn của một kịch gia kiệt xuất như Shakespeare, không thể không nhắc đến những vở bi kịch.
Ro meo và Juliet là vở bi klch đầu tay của Shakespeare, ra đời trong thời kì ông đang hào hứng sáng tác kịch lịch sử, hài kịch và đang được tán dương nồng nhiệt với hai thể loại này. Vở kịch được công diễn và gây nên nỗi xúc động lớn lao trong dư luận. Đó là câu chuyện bi thảm của đôi lứa yêu nhau đã  lấy cái chết để phản kháng lễ giáo phong kiến và mối hận thù truyền kiếp của gia tộc. Câu chuyện bi thảm này vốn là câu chuyện của Italy thời Trung cổ, được một số nhà văn ghi chép lại, dưới ngòi bút tài hoa của ông câu chuyện trở thành  bản tình ca thách thức lễ giáo phong kiến giành lấy quyền tự do yêu đương. Cái  bi ở đây không nằm trong tính cách, không do tính cách nhân vật quy định. Cái  bi ở đây do hoàn cảnh gây ra xô đẩy hai nhân vật trung tâm vào chỗ chết. Vì vậy  đây là vở thuộc phạm trù bi kịch kiểu cũ. Mô típ hận thù dòng họ gây nên tấn bi kịch cũng là mô típ quen thuộc của bi kịch truyền thống từ trước đến bấy giờ.
Lecmantov, nhà thơ Nga nổi tiếng thế kỉ 19 từng say sưa ca ngợi: “Nếu như Shakespeare vĩ đại thì đó là ở Hamlet. Nếu như Shakespeare thật là Shakespeare, một thiên tài vô cùng rộng lớn, đi sâu vào lòng người và những quy luật của vận mệnh, một thiên tài độc đáo, nghĩa là một Shakespeare không ai bắt chước được thì đó chính là ở Hamlet''. Trong suốt vài trăm năm qua, đây vẫn là vở kịch sống động nhất với nhiều cách dựng khác nhau. Cốt truyện của vở kịch được Shakespeare mượn từ một truyện dân gian trong cuốn ''Truyện lịch  sử Đan Mạch''. Và nó cũng được một nhà soạn kịch khá nổi tiếng thời bấy giờ là Thomas Kit chuyển thể trình diễn trên sân khấu. Đến Shakespeare, ông đã thừa  hưởng khá nhiều kinh nghiệm từ những người đi trước, nhưng ông đã cải biến câu chuyện trả thù đơn thuần thành một vở kịch sâu sắc mang đặc trưng thời đại  ông, nói lên những băn khoăn về lẽ sống, về ước vọng của con người. Một tác phẩm tuyệt vời kết hợp giữa thi ca và triết học, giữa nghệ thuật và tư tưởng, giữa  sân khấu và cuộc đời.
Vở Hamlet kể lại câu chuyện phụ vương của hoàng tử Đan Mạch là Hamlet bị người em trai, tức chú của Hamlet là Claudius đầu độc giết chết để  cướp ngôi. Về sau ông ta còn cưới chị dâu, tức mẹ của Hamlet làm vợ. Oan hồn của vua cha về báo mộng đồng thời hối thúc Hamlet trả thù. Đối với một chàng  hoàng tử được nuôi dưỡng bởi tư tưởng nhân văn thì phụ vương cha mình là người tiêu biểu cho sự hiền minh sáng suốt, em đoạt ngôi của anh, cưới chị dâu là một hành động xấu xa khiến cho chàng hoài nghi sự tốt đẹp của thế giới và  mất niềm tin trước sự lương thiện của loài người. Do vậy từ bi kịch cá nhân đã  biến thành bi kịch xã hội. Hamlet buồn than ''Nước Đan Mạch và cả thế giới chỉ là một ngục tù!''.
Từ nỗi đau của riêng mình, Hamlet nhìn rộng ra xã hội và thế giới, Thời đại của chàng là ''thời đại đảo điên tan tác, chàng thất vọng nhận ra sự thoái hoá, biến chất của con người ''Bẩn thỉu thay là đời! Ôi bẩn, bẩn ! Thật là một vườn hoang mọc lên từ những hạt giống độc, đầy rác rưởi thối tha!''. Có lúc quá chán chường, tuyệt vọng chàng muốn tự sát ''Ôi thịt da rắn chắc này hãy chảy ra đi, ta ra đi như một giọt sương!''. Nhưng Hamlet không gục ngã. Chàng đã lúc yếu đuối và hèn nhát vì ý định tự tử nhưng cũng dũng cảm tự phanh phủi cái bản ngã  của mình. Đây là lần đầu tiên trong văn học thế giới xuất hiện con người - tự mổ xẻ chính mình nhằm khám phá ra những vấn đề thuộc về bản chất.
Vậy Hamlet đã nhận ra con người là gì? Chàng bộc lộ “Kì diệu thay là con người. . . thật là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài'' và cái làm nên vẻ đẹp của thế gian, theo Hamlet chính là Lí trí, Tư duy, ''Thật thế! Ông tạo phú cho ta trí suy xét mẫn tiệp biết lường trước tính sau, phải đâu là để cho cái năng khiếu ấy, cái lí trí thần thánh ấy bị hoen rỉ trong tim óc, chẳng được dùng tới?''.Và con người có hai cách sống: chịu đựng hay vùng lên chiến đấu để diệt hết khổ đau. Câu hỏi ''To be or noi to be'' (tồn tại hay không tồn tại) luôn khiến  chàng phải băn khoăn lựa, chàng quyết định: sống, là phải chiến đấu tiêu diệt khổ đau, chiến đấu để khôi phục lại trật tự, làm cho cái thời đại đảo điên của chàng trở nên ''ngay ngắn, vững vàng''. Chàng tự hứa với bản thân “Ôi! từ giờ phút này, ý nghĩ ta phải đẫm máu, nếu không sẽ chẳng có giá trị gì''. Và Hamlet vung lưỡi gươm trừng phạt kẻ phản bội, kẻ giết cha chàng, dẫn dắt mẹ chàng vào con đường tội lỗi. Cái chết của chàng khiến người xem xúc động và thương  tiếc nhưng lại là cái chết không sao tránh khỏi. Điều này liên quan đến thời đại  chàng sống, lí tưởng của chàng là tiến bộ nhưng chưa có khả năng thực tế thực hiện nó. Hơn nữa, bản thân tính cách Hamlet cũng khiến chàng trở thành nhân  vật bi kịch Hamlet hiện thân của sự đau khổ về tâm hồn, nỗi đau không ngừng lớn lên, chàng càng không bằng lòng với những nhìn nhận, lí giải có sẵn. Càng suy tư bao nhiêu, chàng càng bị hành hạ. Bi  quan, hoài nghi, do dự là những nét đậm trong tính cách của chàng và trong hoàn cảnh  nào, chàng cũng chỉ là một người cô đơn giữa thế tục. Việc chàng giả điên nhằm che  mắt kẻ thù, vừa là thái độ muốn tách ra khỏi xã hội xấu xa tầm thường đó.
Chủ nghĩa hiện thực của Shakespeare đã xây dựng nên một hình tượng cực kì phức tạp, đa dạng và phong phú. Về nghệ thuật, ông đã giành thắng lợi quyết định cho thể loại bi kịch tính cách mà chính ông đã khai sinh ra nó. Ông còn sáng tạo nên thủ pháp nhân đôi, trong con người của Hamlet luôn luôn tồn tại hai con người đấu tranh với nhau: một con người hành động, một con người trầm tư suy nghĩ. Con người thứ nhất quyết tâm bao nhiêu, con người thứ hai lại hoài nghi, băn khoăn, do dự bấy nhiêu. Nghệ thuật tạo không khí bi kịch, đưa người xem vào cái không khí nửa xưa nửa nay, vừa như truyện cổ mà vừa rất thời sự.
Nhắc đến Shakespeare, người ta nhắc đến Hamlet, và cũng nhắc tới những Othello, Vua Lear, Macbeth... đây đều là những kiệt tác của nghệ thuật kịch. Othello là một vở bi kịch của lòng tin tan vỡ. Othello là tên một viên đại tướng da đen có nhiều chiến công hiển hách của Venice được nàng Desdemona yêu thương tha thiết. Người con gái Venice này xuất thân từ một gia đình danh giá nhưng sẵn sàng gạt bỏ thành  kiến về màu da và chủng tộc cũng như quan niệm môn đăng hộ đối để mạnh dạn kết hôn bí mật với Othello. Đây là một cuộc hôn nhân dựa trên nền tảng của sự chân thành hiểu biết lẫn nhau được chủ nghĩa nhân văn ca ngợi. Nhưng nó đã bị sự phá hoại của âm mưu và tham vọng. Viên tướng dưới quyền của Othello là Iago ghen ghét với chàng nên đã bày mưu gian để hãm hại Othello. Hắn vu khống Desdemona tư thông  với tên phó quan. Othello là người thành thực dễ tin, trong cơn giận dữ đã giết chết vợ  mình. Khi nhận ra sai lầm của mình, Othello tự sát.
Trong khi đó, Vua Lear lại lấy đề tài từ câu chuyện cổ của xứ Britain. Vua Lear đã già, có hai cô con gái khôn khéo luôn nói với vua cha những lời đường mật. Cô thứ  ba Cordelia là người yêu cha một cách chân thành nhưng ghét thói ninh bợ giả dối. Do vậy, nàng bị vua cha ghét và gả đi lấy chồng xa, không được chia một xu nào. Hai cô chị sau khi giành được quyền thế quay sang đới xử tệ bạc với vua cha. Vua Lear tỉnh ngộ, nhưng Cordelia không may chết trận. Vì quá đau khổ, nên vua Lear cũng chết  theo sau khi phát điên. Vở kịch vua Lear nhằm thể hiện sự xung đột giữa lòng chân  thành nhân ái lấy chủ nghĩa nhân đạo làm cốt lõi với chủ nghĩa vị kỷ. Cordelia tiêu biểu cho sự chân thành nhân ái và khoan dung, còn vua Lear sau khi nếm trải đau khổ cũng nhận ra đâu là lòng trung thành. Hai cô con gái lớn cấu kết với nhau để cùng mưu lợi nhưng có sự xung đột trong quyền lợi, họ lại ra tay hại lẫn nhau. Họ đã chà đạp lên mối quan hệ cơ bản nhất và tình cảm thiêng liêng nhất của con người là mối quan hệ giữa cha con, mối quan hệ giữa chị em và mối quan hệ vợ chồng. Cái chết của Corledia - người đại diện cho chính nghĩa đã làm tăng thêm tính chất gay gắt và nặng nề trong vở kịch.
Macbeth là vở kịch kể lại chuyện đại tướng Macbeth, một vị tướng người Scotland thiện chiến gan dạ đã thí vua đoạt ngôi và cuối cùng bị tiêu diệt qua  một cuộc chinh phạt. Lời dự đoán của phù thuỷ cũng như lời xúi bẩy của bà vợ đã thôi thúc dục vọng và dã tâm sẵn có trong lòng ông ta, đưa ông ta tới chỗ giết vua đoạt ngôi. Bắt đầu bằng tội lỗi thì cũng phải dùng tội ác để củng cố địa vị của mình. Không có vở kịch nào của Shakespeare lại phơi trần tham vọng, chuyên chế và tàn bạo của cá nhân mạnh mẽ như Macbeth. Nhưng, sự trừng phạt cuối cùng của Macbeth không chỉ qua đạo quân chính nghĩa lật đổ kẻ tiếm quyền, mà đồng thời còn ở sự giày vò suốt ngày đêm từ trong chút ít lương tri  còn tồn tại. Ông ta giết hại nhà vua trong giấc ngủ, thì kể từ đó ông ta cũng ''sát hại giấc ngủ'' của chính mình. Shakespeare đã rất tài tình khi mô tả tâm trạng của một tên sát nhân không còn đường thoát, kinh tởm bàn tay vấy máu của  chính mình ''Nghiêng hết nước biển có thể rửa sạch được hai bàn tay vấy máu  của tôi không? Không! Trái lại hai bàn tay của tôi sẽ làm cho nước biển trở  thành máu đỏ''. Macbeth được thừa nhận là một vở bi kịch kiệt tác còn vì nghệ  thuật kết cấu chặt chẽ, nghệ thuật phân tích tâm lí bậc thầy. Đây là vở kịch ngắn nhất trong những vở kịch của Shakespeare, ngắn vì hàm súc và chặt chẽ. Trí  tưởng tượng của nhà soạn kịch đã dựng nên những cảnh tuy không có thực mà vẫn sinh động, như cảnh các oan hồn hiện trước trướng của Macbeth.
Julius Caesar cũng là một vở kịch được hoan nghênh của Shakespeare. Năm 44 trước Công nguyên, nhân vật độc tài của đế quốc La Mã là Caesar quyền lực ngày càng nhiều. Brutus người bạn thân của Caesar, cũng là người đứng đầu của Viện nguyên lão vì sợ Caesar nắm quyền lực đi tới độc tài chuyên  chế, nên đã âm mưu giết hại Caesar trước mặt mọi người tại Viện nguyên lão. Trong bài diễn văn với lập luận vững vàng, Brutus giải thích với thị dân La Mã  về động cơ ngay thẳng của ông ta. Ông ta giết Caesar vì ''không phải vì tôi thương Caesar quá ít, mà chính tôi thương La Mã quá nhiều. Các bạn có bằng  lòng để cho Caesar sống mà hàng vạn nhân dân phải chết trong kiếp nô lệ, hay là bằng lòng để cho một mình Caesar chết mà muôn dân tự do?''. Nhưng sau đó,  Brutus đã bị những người trung thành với Caesar buộc phải tự sát. Sự nghiệp sáng tác của Shakespeare làm người ta kinh ngạc. Hiếm có nhà văn nào mà có nhiều tác phẩm trường tồn như ông. Đặc biệt ở địa hạt kịch, ông là một đỉnh cao đầy thách thức đối với bất kì nhà soạn kịch nào. Cống hiến của ông là giúp con  người hiểu thêm về mình. Nghệ thuật đồi với ông là một tấm giương phản chiếu cuộc sống, rằng chớ nên ''vượt khỏi sự khiêm tốn, giản dị của tự nhiên''. Đó là những quan điểm nghệ thuật tiến bộ không chỉ với thời đại ông mà còn đối với những thời đại sau, kể cả hiện nay, khi nhiều trường phái, nhiều học thuyết nhân danh là ''mới'' đang muốn kéo nghệ thuật đi chệch khỏi con đường chân chính.
Không thể nghi ngờ rằng Shakespeare là linh hồn của văn hoá Phục hưng Anh, một tác gia Anh sống cùng thời là Ben Jonson đã viết những dòng sau đây ca ngợi ông:
Linh hồn của thời đại...
Shakespeare đã vươn lên!
Người chẳng khác gì một tấm bia sừng sững
Những tác phẩm bất hủ của người sẽ cùng tồn tại đến nghìn thu

Chúng ta sẽ vĩnh viễn đọc nó và tán dương nó!

Danh Ngôn

Quảng cáo

Chuye giay dep tre em Giày dép trẻ em Giay dep tre em Sale domain

Lượt truy cập

 
Copyright © 2014 ĐỨC VINH